Battlefield 3 multiplayer review
Lorem ipsum dolor sit amet, conscur adisng elit, sed do eiusmod tempor iniunt ut labore et dolore mana aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exetation ullco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo coequat. Duis aute irure dolor
A Bathing Ape 2011 Winter Collection
Lorem ipsum dolor sit amet, conscur adisng elit, sed do eiusmod tempor iniunt ut labore et dolore mana aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exetation ullco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo coequat. Duis aute irure dolor
Diablo 3 beta gameplay video
Lorem ipsum dolor sit amet, conscur adisng elit, sed do eiusmod tempor iniunt ut labore et dolore mana aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exetation ullco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo coequat. Duis aute irure dolor
Killer Elite movie review
Lorem ipsum dolor sit amet, conscur adisng elit, sed do eiusmod tempor iniunt ut labore et dolore mana aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exetation ullco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo coequat. Duis aute irure dolor
Năm 2013, Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có thông báo trong toàn dân về việc đóng góp ý kiến sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (gọi tắt là Hiến pháp 1992). Đây là một trong những sinh hoạt chính trị rộng lớn thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với người dân nhằm cùng xây dựng một bản Hiến pháp tiến bộ, dân chủ.
Để có thể hiểu rõ hơn về Hiến pháp và ý nghĩa, tầm quan trọng của Hiến pháp, chúng ta thử tìm hiểu căn nguyên của Hiến pháp, các loại Hiến pháp để từ đó nhận thấy việc góp ý là cần thiết hay không cần thiết trong mỗi chúng ta. Đây là những nội dung đã được đề cập nhiều trong các tài liệu, giáo trình Luật Hiến pháp nhưng xét thấy còn có những quan điểm khác nhau về Hiến pháp. Hiểu rõ vấn đề này sẽ giúp chúng ta có cơ sở tham gia góp ý bản dự thảo Hiến pháp và cùng nhau bảo vệ Hiến pháp như bảo vệ những giá trị tối thượng của một nền dân chủ, tiến đến một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Khái quát về lịch sử Hiến pháp
Từ “Hiến pháp” được dịch ra từ “Constitution” của tiếng Anh, xuất phát từ tiếng La tinh “Constitutio” nghĩa là thiết lập, đặt nền tảng, đó chính là một văn kiện nền tảng , trong đó một quốc gia tương lai sẽ được xây dựng, thiết lập. “Hiến Pháp được người dân luôn luôn hiểu đồng nghĩa với một văn bản nền tảng để bảo đảm mọi hoạt động của nhà nước không vượt quá giới hạn ( Giáo sư G. Sartori).
Ở các nước như Đức và Ý, người dân xem Hiến Pháp như là một văn bản pháp luật nền tảng, gồm các nguyên tắc cơ bản thể hiện thể chế tổ chức của nhà nước nhằm giới hạn quyền lực hay hành vi của nhà nước và người của nhà nước, bảo đảm một chính quyền hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp. Trên thực tế, trong lịch sử từ “Constitutio” không phải luôn luôn có ý nghĩa là văn bản bảo đảm như một số nhà nghiên cứu đã nêu ra.
Trong bộ luật La Mã, thuật ngữ “Constitutio” và “Constitutiones” có nghĩa là “Edicta và Decreta, tức là Chiếu chỉ và Sắc Lệnh của Hoàng đế La Mã ban hành. Nhưng đến thời Trung cổ thì thuật ngữ này dường như không được nhắc đến.
Mãi đến thế kỷ XVIII thuật ngữ “Constitution ” mới được nước Mỹ nhắc lại trong bản Hiến Pháp Philadelphia 1787 và từ đó đến nay thuật ngữ này được hiểu một cách thống nhất để nói lên Hiến pháp là một văn kiện nền tảng của quốc gia. Friedrich August Hayek (1899-1992) cho đó là sự đóng góp quý báu của Mỹ cho thể chế dân chủ trên toàn thế giới. Tương tự, bản Tuyên ngôn nhân quyền và quyền công dân của Pháp năm 1789 cũng xác định: “Một xã hội trong đó các quyền của người dân không được bảo đảm và quyền hành không được phân chia tách biệt một cách xác định, thì xã hội đó không có Hiến pháp” (Điều 6).
Nước Anh được xem là một trong những nước có công lớn trong việc thiết lập thể chế Nghị viện hiện đại, thì trái lại, Hiến pháp của nước Anh (Hiến pháp bất thành văn) lại không có công lao lớn đối với các nước. Trong khi Mỹ, Pháp và các quốc gia có nền Hiến pháp trị ở Châu Âu coi Hiến Pháp là đạo luật hay là nguyên tắc nền tảng để bảo vệ người dân, bằng cách ràng buộc chính quyền với các từ như: “không được…”, “phải tôn trọng”. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nước Anh không có Hiến pháp mà chính các văn kiện được thiết lập một cách rời rạc nói về quyền của người dân hay một số vấn đề ràng buộc hoặc hạn chế đối với nhà nước không được đề cập thành văn bản, vì người dân Anh tin tưởng vào những giá trị của thông lệ và trách nhiệm của từng người dân. Ngược lại, những các nước Châu Âu, đã trãi qua các thể chế độc tài trong quá khứ, thì người dân chỉ có thể an tâm nếu có được một Hiến pháp thành văn hiện hữu.
Như vậy, dù Hiến pháp thành văn hay bất thành văn nó cũng đều nói lên rằng Hiến pháp là một văn kiện nền tảng bảo đảm giới hạn quyền hành của nhà nước, tránh sự lạm quyền từ phía nhà nước.
Những nội dung chủ yếu được đề cập trong Hiến pháp của một số nước
Trong Tuyên ngôn nhân quyền của Mỹ năm 1776, đề cập đến hai vấn đề rất cơ bản xuyên suốt trong nền lập hiến của Mỹ, đó là, (1) phương thức tổ chức nhà nước, (2) là các phương thức bảo đảm quyền và tự do của người dân. Chính vì vậy, Carl J. Friedrich cho rằng, Hiến pháp không phải chỉ là một văn kiện nêu lên thể chế chính trị, mà còn là một văn kiện nêu lên thể chế chính trị đặc biệt để giới hạn quyền lực của nhà nước; [1] và W.H. Morris-Jones cũng cho rằng: Hiến pháp là một thể thức tổ chức của một tập thể chính trị nhờ luật pháp và bằng luật pháp, nhằm giới hạn việc sử dụng quyền lực tuỳ tiện và buộc mọi quyền lực đó phải phục tùng quyền của người dân [2]
Như vậy, chúng ta thấy rằng Hiến pháp không phải chỉ là văn bản nói lên hình thức hay thể chế chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá… của một nước, mà là một văn bản bảo đảm quyền của người dân chống lại mọi trường hợp lạm quyền của nhà nước. Do đó, trong Hiến pháp nước Ý 1947 có điều khoản định nghĩa về thể chế tổ chức nhà nước: “Quyền tối thượng của nhà nước thuộc về người dân. Người dân thực thi quyền tối thượng của mình theo các hình thức và phạm vi được Hiến Pháp quy định ”[3], theo đó, Nhà nước Ý bảo dảm các quyền bất khả xâm phạm của con người như: quyền bất khả xâm phạm về nơi cứ trú, chỗ ở, quyền tự do thư tín… Mọi hình thức bắt giữ, khám xét, lục soát đối với cá nhân cũng như mọi hình thức giới hạn tự do cá nhân khác đều không được chấp nhận, nếu không có bản án hay lệnh của Toà án được pháp luật quy định.
Những điều khoản nêu trên và còn nhiều điều khoản khác nữa được Hiến pháp nước Ý nêu ra để nói lên tính bảo đảm của Hiến Pháp bằng các từ “bất khả xâm phạm” hay “Nhà nước không được…”.
Hiến pháp còn là một văn bản bảo đảm quyền và tự do của người dân, trước khi đề cập đến các nguyên tắc và cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước. Điều đó được B. Constant nêu rõ: “Như từ lâu tôi đã xác định, Hiến pháp là sự bảo đảm cho tự do của một dân tộc. Tất cả những gì có liên quan đến tự do đều thuộc về Hiến pháp, và ở đâu không có Hiến pháp, thì ở đó không có tự do” và “Hiến pháp là một đạo luật nền tảng, hay một chuỗi những nguyên tắc cơ bản, được thể chế hóa bằng một sơ đồ cơ cấu tổ chức nhà nước, nhằm giới hạn sự lạm quyền tùy tiện của nhà nước và bảo đảm hoạt động của nhà nước trong phạm vi giới hạn”[4].
Phân loại Hiến Pháp.
Hiến pháp dân chủ
Hiến pháp dân chủ là Hiến pháp xác định rõ quyền và tự do của người dân, bắt buộc nhà nước phải tuân thủ Hiến Pháp, để tránh sự lạm dụng quyền lực từ phía nhà nước, nhằm đảm bảo cho người dân được an toàn.
Hiến pháp năm 1949 của Cộng hoà Liên bang Đức là một điển hình, gồm các điều khoản chủ yếu như là những luật thực định có hiệu lực bắt buộc phải tuân thủ, như: “Tự do của mỗi người là quyền bất khả xâm phạm”(Điều 2), điều đó có nghĩa là không ai được xâm phạm quyền ấy và đặc biệt nhà nước không được xâm phạm các quyền tự do cá nhân của con người. Bên cạnh đó, Hiến pháp 1949 của Đức còn quy trách nhiệm cho các chủ thể nhà nước một cách trực tiếp, nếu người dân bị vi phạm hoặc không được hưởng trọn vẹn và không được phát triển các quyền cơ bản của mình như “Trách nhiệm của mọi quyền lực nhà nước là tôn trọng và bảo vệ giá trị đó của con người”, “Các quyền cơ bản là những quyền bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, phải tôn trọng như là những giá trị trực tiếp của con người” (Điều 1).
Trong Hiến pháp dân chủ, các điều khoản luôn thể hiện cơ chế, biện pháp hay phương thức đảm bảo quyền tự do của con người, đồng thời luôn ràng buộc nhà nước phải đảm bảo và tạo điều kiện để phát triển, mở rộng quyền tự do của con người. Hiến pháp dân chủ được một số nhà nghiên cứu hiến pháp gọi đó là Hiến pháp thực hữu.
Với ý nghĩa đó, góp ý cho bản Hiến pháp là vấn đề rất quan trọng trong suy nghĩ của mỗi người, bởi vì bản hiến pháp đã tác động trực tiếp đến quyền của họ, đến cuộc sống của họ. Các nước có nền Hiến pháp dân chủ thường xem ngày mà người dân thông qua bản hiến pháp như một ngày lễ lớn kỷ niệm một sự kiện quan trọng về quyền phúc quyết Hiến pháp của toàn dân.
Hiến pháp phi dân chủ
Hiến pháp phi dân chủ là loại Hiến pháp chỉ nêu lên vị thế, quyền hành của cơ quan hành pháp. Trong nhà nước quân chủ chuyên chế, Hiến pháp thường thể hiện những câu như, quyết định của nhà vua là luật tối thượng; nhà vua không bị bất cứ một luật lệ nào ràng buộc… như nhận định K. Loevenstein: “Hiến Pháp được hoàn toàn áp dụng, nhưng bản chất của nó chỉ dùng để xác định vị thế, quyền hành như là đặc ân, đặc quyền của những ai nắm quyền”[5]. Trên thực tế, Hiến Pháp phi dân chủ chỉ là Hiến pháp mang tính tổ chức, chỉ liệt kê những cách thức tổ chức của cơ quan nhà nước và không đưa ra giới hạn nào nhằm kìm chế sự lạm quyền của quyền lực nhà nước, nhằm bảo vệ người dân.
Với loại Hiến pháp này thì việc người dân góp ý Hiến pháp chỉ thông qua các hình thức đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ hoặc chỉ có thể thờ ơ xem như chẳng liên quan gì đến họ, hay nói cách khác, đó là sự thờ ơ và bất tuân pháp luật, như một giáo sư nổi tiếng đã dày công nghiên cứu lịch sử và pháp luật Việt Nam sau khi quả quyết về cái “truyền thống” “bất tuân pháp luật” của người Việt mình đã lý giải thuyết phục nguyên nhân của nó. Đó là do dân ta phải sống quá lâu trong chế độ đô hộ, phong kiến, thực dân; pháp luật theo họ là công cụ của kẻ thống trị, của ngoại bang chỉ để trấn áp, trừng trị và phục vụ thiểu số người. Chính vì vậy, họ không tìm thấy trong pháp luật những giá trị phản ánh lợi ích của mình nên đã hình thành nên một phản xạ luôn đặt pháp luật trong tư thế đối lập với mình [6].
Hiến Pháp danh nghĩa
Hiến pháp danh nghĩa là loại Hiến pháp chỉ có giá trị về mặt danh nghĩa, tức xem đó là một bản hiến pháp dân chủ nhưng trên trên thực tế không được áp dụng. Các điều khoản của Hiến pháp này về mặt hình thức giống như Hiến pháp dân chủ, nhưng không xác định một phương thức nào để bảo đảm cho quyền tự do của công dân và cũng như không quy trách nhiệm cho ai trong việc bảo vệ các quyền đó của người dân, không có điều khoản ràng buộc hoặc hạn chế sự lạm quyền của nhà nước. Chẳng hạn như quy định công dân có quyền biểu tình nhưng không quy định rõ biểu tình như thế nào và cũng không quy định cơ quan nào chịu trách nhiệm đảm bảo quyền đó của người dân; hoặc các điều khoản thường gắn với từ “theo quy định pháp luật”, ví dụ như công dân có quyền tự do lập hội, tự do hội họp theo quy định pháp luật. Với các ngôn từ trong Hiến pháp danh nghĩa, chúng ta thấy rằng, giá trị của Hiến pháp không được đề cao, không được xem là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, bởi vì bản thân Hiến pháp không thể quy định được phương thức để người dân thực hiện quyền tự do của mình mà phải viện dẫn bằng một văn bản pháp luật khác có giá trị pháp lý thấp hơn để hướng dẫn thi hành.
Với loại Hiến pháp này thì việc nhà nước tổ chức lấy ý kiến người dân cũng chỉ là hình thức mang danh nghĩa dân chủ như đúng tên gọi của nó.
Sửa đổi Hiến pháp
Hiến pháp được lập ra trong khoảng thời gian và không gian nhất định, do đó, không thể tránh khỏi sự lạc hậu khi xã hội luôn vận động và phát triển. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung hay tu chính Hiến pháp là vấn đề tất yếu miễn sao tinh thần nền tảng cho dân chủ cũng như các mục đích tối hậu của Hiến pháp vẫn còn hiệu lực, đó là một tiến trình tự nhiên trong cuộc sống xã hội để bản Hiến pháp được hoàn hảo hơn. Thomas Jefferson khi gởi thư cho Samuel Kercheval đã tuyên bố: “Một số người nhìn hiến pháp với một lòng sùng đạo quá mức, và tưởng rằng hiến pháp là một ánh hào quang của sự thỏa thuận, sợ không dám đụng vào chúng. Họ gán cho các bậc tiền bối sự thông thái hơn con người, và nghĩ rằng những gì họ làm không thể sửa đổi… Tôi đương nhiên là không ủng hộ việc thay đổi luật và hiến pháp một cách thường xuyên và thiếu kinh nghiệm… Nhưng tôi cũng nghĩ rằng, luật và các định chế phải song hành với sự phát triển của trí tuệ con người. Khi trí tuệ con người trở nên phát triển hơn, sáng suốt hơn, khi xuất hiện những khám phá mới, sự thật mới được phơi bày, cách cư xử và quan niệm thay đổi cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh, các định chế cũng phải tiến bộ theo… Mỗi thế hệ đều độc lập như những thế hệ đi trước… Vậy thì họ cũng phải có quyền, như các thế hệ trước, chọn cho mình một mô hình chính quyền mà họ tin rằng sẽ đem lại một cách tốt nhất hạnh phúc của riêng họ”[7]
Hiến pháp Mỹ năm 1787 đã trãi qua 27 lần tu chính nhưng những giá trị nền tảng luôn bền vững như về quyền tự do của con người, quyền bất khả xâm phạm…, hay như Hiến pháp Đức luôn bảo vệ những giá trị nhân bản của nhà nước mặc dù cũng đã được tu chính nhiều lần.
Kinh nghiệm, góp ý cho việc sửa đổi Hiến pháp 1992
Mục đích của việc tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức quyền lực chính trị trong một quốc gia là làm sao bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho con người phát triển hoàn hảo những khả năng của mình, đảm bảo cho con người được tự do, bình đẳng và giàu lòng nhân ái. Vì vậy, Hiến pháp phải đặt con người ở vị trí trung tâm và mọi hoạt động của nhà nước phải lấy trục con người làm trung tâm để tổ chức quyền lực nhà nước.
Hiến pháp 1992, mặc dù có đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến con người, quyền công dân (Chương V) nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định hoặc còn được ràng buộc bởi những quy định bó hẹp quyền của con người. Chẳng hạn, quyền con người được đề cập tại Điều 50 Hiến pháp 1992 nhưng lại được bó lại bởi quyền công dân do pháp luật quy định.
Nhiều quyền công dân được quy định trong Hiến pháp 1992 không có đủ các biện pháp để đảm bảo thực hiện, chẳng hạn, “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nàh nước, biểu quyết khi nhà tổ chức trưng cầu dân ý” (Điều 53). Thực tế, rất nhiều cơ quan công quyền mà người dân muốn tham gia vào để làm việc, để “quản lý” nhưng những cơ quan này hoàn toàn không “mở cửa”, vẫn khép kín trong phạm vi nội bộ hoặc đặt ra những điều kiện ngoài quy định như hộ khẩu, trình độ lý luận chính trị… để loại ra khỏi cuộc chơi những người có tâm huyết; hoặc khi công dân ứng cử vào đại biểu quốc hội, hội đồng nhân dân thì phần lớn không được do không có cơ cấu; hoặc việc trưng cầu ý dân, từ Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, đến nay nhà nước chưa bao giờ tổ chức trưng cầu ý dân, nghĩa là quyền này của người dân chỉ có trên danh nghĩa. Và rất nhiều nội dung khác mà quyền con người được quy định như vậy.
Quyền công dân trong Hiến pháp bị bó hẹp bởi các văn bản luật hoặc dưới luật.
Một số quy định trong Hiến pháp như “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định pháp luật” (Điều 57), “Công dân có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” (Điều 69), nói lên rằng giá trị của Hiến pháp còn bị lệ thuộc nhiều vào các văn bản luật và dưới luật. Điều này rõ ràng là chính Hiến pháp đã làm mất đi giá trị tối thượng của mình, Hiến pháp không tự bảo vệ quyền của công dân mà lại giao cho cơ quan khác quy định. Sự hạ thấp này làm cho bản hiến pháp của ta trong một thời gian dài ít được tôn trọng, thậm chí bị lạm dụng, bởi vì chính bản hiến pháp cho phép người ta lạm dụng.
Đây là hai vấn đề rất cơ bản để bảo vệ và nâng tầm quan trọng của Hiến pháp. Nếu việc sửa đổi không giải quyết hai vấn đề này thì Hiến pháp ta vẫn mãi bị xâm phạm, bị lạm dụng cho dù nhà nước có thiết lập cơ chế để bảo vệ.
Chú thích.
[1] Carl J. Friedrich, The Philosophy of Law;
[2] W.H. Morris-Jones, trong American Political Science Review, 1965;
[3] Điều 1, Hiến pháp 1947 của Ý;
[4] B. Constant, Principes de Politique, 1815;
[5] Political Power and the Government Process, University of Chicago Press, 1965;
[6] Người Việt phẩm chất và thói hư tật xấu. NXB Thanh Niên 2009.
[7] Sanford Levinson. Our undemocratic Constitution ( New York: Oxford University press, 2006), pp.IX.















